Thánh Phêrô Lê Tùy sinh năm 1773 trong một gia đình trung nông tại làng Bằng Sở, thuộc xứ đạo Sở Hạ – nay là huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ngay từ nhỏ, chú Tùy đã theo đuổi ơn gọi tu trì và được nhập chủng viện Kẻ Vĩnh, tỉnh Nam Định. Sau thời gian học tập và đào luyện, ngài được thụ phong linh mục và hăng hái phục vụ tại các giáo xứ: trước làm phó xứ Đông Thành (Chân Lộc), sau làm chánh xứ Nam Đường, tỉnh Nghệ An.

Năm 1833, vua Minh Mạng ban hành chiếu chỉ cấm đạo. Vào mùa Thu cùng năm, khi đang trên đường đi xức dầu cho một bệnh nhân hấp hối, cha Lê Tùy bị bắt. Tin cha bị bắt lan nhanh đến giáo dân, họ vội vàng đến quan huyện xin nộp tiền chuộc mạng. Quan huyện đồng ý tha, nhưng yêu cầu cha phải khai nhận mình chỉ là thầy thuốc đi thăm bệnh.

Cha Tùy cương quyết từ chối lời khai gian dối ấy. Vì thế, ngài bị giải về giam trong ngục đường Nghệ An. Tại công đường, quan án hỏi: “Ông có phải là đạo trưởng không?”, cha dõng dạc đáp: “Phải, tôi là đạo trưởng đạo Thiên Chúa!”.

Quan động lòng thương, nói: “Này ông, ông đã già, ta thương hại, nhưng phép nước rất nhặt. Ông hãy làm giấy tự khai mình là thầy thuốc, như thế ta có thể cứu ông khỏi chết nhục hình. Ông không sợ chết sao?”. Cha Tùy bình thản trả lời: “Cám ơn quan lớn đã muốn cứu tôi, nhưng lương tâm một đạo trưởng đạo Thiên Chúa không cho phép tôi làm theo ý quan”.

Quan lập án gửi về kinh, tưởng rằng người 60 tuổi sẽ chỉ bị phạt tiền. Nhưng vua Minh Mạng hạ bút châu phê bản án: “Tên Lê Tùy đã xưng là đạo trưởng và truyền bá tà đạo cho dân, phải trảm quyết”.

Ngày 11 tháng 10 năm 1833, bản án được thi hành tại pháp trường Chợ Quân Ban. Trước giờ phút cuối cùng, cha Tùy xin được quỳ xuống chiếu cầu nguyện. Ngài cũng khuyên ông Thu – người đang ở bên cạnh – rằng: “Con hãy bền lòng vững chí, rồi con cũng được phần thưởng muôn đời”.

Thi hài cha được mai táng tại nhà nguyện Tràng Nứa, sau đó được rước về an táng tại quê hương Bằng Sở.

Linh mục Phêrô Lê Tùy được Đức Giáo hoàng Lêô XIII suy tôn lên hàng chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900, và được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.