Thánh Pierre Néron sinh ngày 21 tháng 9 năm 1818 tại Pháp, trong một gia đình nông dân chất phác và đạo đức. Từ nhỏ, cậu vừa chăm chỉ lao động chăn nuôi giúp cha mẹ, vừa tranh thủ thời gian học hành. Mang trong lòng khao khát truyền giáo, năm 19 tuổi, cậu đã gặp cha sở để bày tỏ nguyện vọng dâng mình cho Chúa. Sau đó, cậu gia nhập Hội Thừa Sai Paris, được thụ phong linh mục ngày 17 tháng 6 năm 1848 và được sai đến Giáo phận Tây Đàng Ngoài.

Ngày 28 tháng 3 năm 1849, cha đến Hà Nội và nhận tên Việt là Bắc. Ban đầu, cha được gửi đến xứ Kẻ Vĩnh để học tiếng Việt và tham gia công việc mục vụ tại giáo xứ Hà Nội.

Năm 1854, cha được giao nhiệm vụ giảng dạy cho 150 chủng sinh tại Chủng viện Vĩnh Trị. Tại đây, cha sống đời khắc khổ, gương mẫu, giữ chay mỗi ngày thứ Sáu trong tuần. Một năm sau, cha được trao sứ vụ truyền giáo tại vùng Sơn Tây – giáo xứ đông nhất giáo phận với hơn 16.000 tín hữu.

Khi tình hình cấm đạo ngày càng gay gắt, cha Bắc thường xuyên di chuyển giữa hai xứ đạo Tạ Xá và Yên Tập – những nơi có địa hình đồi núi thuận tiện cho việc ẩn nấp. Ngày 13 tháng 3 năm 1857, khi đang dâng lễ tại nhà dòng Mến Thánh Giá Tạ Xá, cha bị cai tổng dẫn lính đến vây bắt do có người tố giác. Cha bị đánh vào hai ống chân rồi trói đưa lên thuyền để thẩm vấn.

Tại công đường, ngày 7 tháng 8 năm 1860, quan lại tra hỏi cha về những làng mạc đã ghé qua, những gia đình đã che giấu, hay những tín hữu đã giúp cha trốn thoát. Nhưng cha nhất quyết im lặng. Bọn lính đóng nọc cha xuống đất và đánh 40 roi chí tử.

Trong ba tháng bị giam, các quan án cố ép cha nhận tội xúi giục dân chống lại triều đình. Cha khẳng định rõ ràng: mình đã từ bỏ quê hương chỉ để đến đây rao giảng “đạo lành”. Để chứng minh lòng thành, cha tuyệt thực suốt 21 ngày – khiến binh lính canh gác và các tín hữu đến thăm đều kinh ngạc và cảm phục.

Ngày 3 tháng 11 năm 1860, cha bị giải ra pháp trường Sơn Tây và bị chém đầu. Thi hài ngài được an táng trong lòng nhà thờ Bách Lộc.

Linh mục Pierre Néron – Bắc được Đức Thánh Cha Piô X tôn lên bậc Chân phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tôn phong Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.