Thánh Gioan Đoạn Trinh Hoan sinh năm 1798 tại làng thuộc họ Kim Long, Phú Xuân, Giáo phận Huế. Song thân của ngài là những giáo dân đạo hạnh, sống bằng nghề canh tơ dệt lụa.

Ngay từ nhỏ, cậu Hoan đã bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học. Người cậu là cha Kiệt nhận cậu làm học trò, nuôi nấng, dạy dỗ và truyền thụ tiếng Latinh. Sau đó, cậu được gửi theo học tại Chủng viện Penang. Mãn khóa, thầy Gioan trở về nước, giúp Đức cha Taberd – Từ trong công việc phiên dịch sách báo đạo. Năm 1836, thầy được Đức cha Etienne Cuenot – Thể truyền chức linh mục tại Sài Gòn.

Trong suốt 26 năm linh mục, cha Gioan Hoan luôn khiêm phục lãnh nhận các nhiệm sở theo ý bề trên. Ngài hoạt động nhiệt thành nhưng vẫn điềm tĩnh, thận trọng và hết lòng yêu thương mọi người.

Tối ngày 03-01-1861, quan quân phục kích bắt cha Hoan. Khi ấy, ngài đang nấp trong một ổ rơm. Quan ra lệnh bắt và đánh đập một người giáo dân, tra tấn để hỏi tung tích của đạo trưởng. Trước cảnh hành hạ dã man, không nỡ để người khác chịu đau thay mình, cha Hoan đã từ ổ rơm bước ra nộp mình. Binh lính reo hò đắc thắng, trói hai cha con (cha và người giáo dân) cùng một vài chức việc, giải về công đường Đồng Hới và giam vào ngục tối. Lúc này ngài đã 63 tuổi.

Trong ngục, cha Hoan nhiều lần bị tra tấn, bị ép buộc phải bước qua thập giá và khai báo nơi ẩn trốn của Đức cha cùng các thừa sai. Nhưng ngài vẫn giữ thái độ khoan dung trong từng lời nói. Chính cử chỉ từ tâm theo gương Chúa Kitô đã khơi dậy lòng trắc ẩn của quân canh. Nhờ vậy, họ không cấm cản việc thăm viếng, mang Mình Thánh Chúa và tiếp tế nhu yếu phẩm của các nữ tu và giáo dân.

Khi các tín hữu đến chào từ biệt, cha Hoan đã dùng lời của Thánh Phaolô, vị tông đồ dân ngoại, để nhắn nhủ: “Anh chị em hãy theo gương tôi, như chính tôi đã theo Đức Kitô, hãy sống trong bình an của Ngài và cầu nguyện cho tôi”.

Rạng sáng ngày 26-5-1861, dưới triều vua Tự Đức, ngài bị áp giải ra pháp trường với án lệnh: “Tội phạm tên Hoan, nghề nghiệp đạo trưởng, truyền bá tà đạo trong dân, bị xử chém đầu”.

Linh mục Gioan Đoạn Trinh Hoan được tuyên phong chân phước ngày 02-5-1909 và được tôn phong hiển thánh ngày 19-6-1988.