Thánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh: Tấm Gương Bác Ái Và Đức Tin Kiên Trung
Thánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh, thường được gọi là Năm Quỳnh, sinh năm 1768 tại làng Mỹ Hương, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Ngài là con thứ năm của ông Antôn Hiệp và bà Mađalêna Lộc. Theo gia phả, ngài là hậu duệ đời thứ 15 của danh nhân Nguyễn Trãi (1380-1442).
Người Lang Y Của Người Nghèo
Năm 1800, ông Quỳnh nhập ngũ phục vụ hoàng tôn Nguyễn Ánh và thăng tới chức Vệ Uý. Hai năm sau, ông giải ngũ về quê, học nghề thuốc và trở thành một lương y nổi tiếng. Với tấm lòng nhân hậu, ông chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, thậm chí còn hỗ trợ tài chính.
Ông quan niệm rằng giúp đỡ người khó khăn là bổn phận của người Kitô hữu, vì họ là chi thể của Chúa. Ông tin tưởng tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa: “Chúa đã cho chúng ta sống tất sẽ quan phòng cho ta đủ dùng”. Khi các con trưởng thành, ông dành toàn bộ thu nhập từ việc bán thuốc để chia sẻ với bà con nghèo khổ, thay vì tích lũy cho gia đình.
Trùm Họ Tận Tụy Và Cha Gia Đình Gương Mẫu
Dấn thân phục vụ Giáo hội, ông nhận lời làm trùm họ làng Mỹ Hương và hỗ trợ Đức cha Labartette - Bình trong việc dạy giáo lý. Nhà ông trở thành nơi trú ẩn cho các thừa sai và lớp học giáo lý. Ông giáo dục con cái yêu mến Giáo hội và giữ vững đức tin. Cô con gái cả của ông đã gia nhập dòng Mến Thánh Giá.
Trong một lần quân lính khám nhà, họ ép bà Quỳnh và hai cô con gái út bước qua thập giá. Ba mẹ con khẳng định hành động này chỉ do bị ép buộc, trong lòng vẫn luôn tôn kính Thánh Giá. Sự kiên định của họ khiến quân lính nể phục và tha bổng.
Những Ngày Tháng Tù Đày Và Tử Đạo
Ông Quỳnh bị bắt tại trại Kim Sen và áp giải về Đồng Hới. Khi biết quân lính giữ sổ danh sách tín hữu, ông nhắn con trai mang 50 quan tiền đến chuộc lại để bảo vệ cộng đoàn. Tại nhà lao Đồng Hới, ngài vui mừng được chung cảnh ngộ với Đức cha Borie - Cao, cha Điểm, cha Khoa và thầy Tự.
Khi bị lính trói và ép bước qua Thánh Giá, ông phản kháng mạnh mẽ: “Việc này do quan lớn làm, nếu có tội là quan phạm tội, chứ không phải tôi”. Ông tuyên bố dứt khoát: “Thà chết không thà chối Chúa, dù chỉ trong giây lát”.
Không khuất phục được các chứng nhân, quan lại gửi án về kinh đô. Ba vị giáo sĩ bị án trảm quyết, còn ông Antôn và thầy Tự bị án xử giảo nhưng giam hậu. Trong hai năm tù đày, ông Quỳnh nêu cao đức nhẫn nại, chuyên chăm cầu nguyện, giữ chay và dùng nghề y để chữa bệnh cho bạn tù cũng như một viên quan tại Đồng Hới.
Giây Phút Vĩnh Hằng
Sáng ngày 10/07/1840, khoảng 100 binh lính dẫn ông Quỳnh và thầy Tự ra pháp trường. Tại đây, hai vị dừng lại đúng nơi ba vị giáo sĩ trước đó đã tử đạo để cầu nguyện tạ ơn. Ông Quỳnh bình tĩnh hút hết điếu thuốc cuối cùng được quan trao.
Gặp hai người con đến tiễn biệt, ông nhắn nhủ: “Cha gởi lời chào các chức sắc và anh em giáo hữu Mỹ Hương. Cầu chúc mọi người bình an, trung thành giữ đạo. Hãy yêu thương nhau và sống đạo đức, các con sẽ gặp lại cha trên Thiên Đường”.
Nằm xuống chiếu, ông giang tay nói: “Xưa Chúa cũng giang tay như thế này để chịu đóng đinh”. Giữa tiếng thanh la vang rền, án lệnh xử giảo được thi hành, đưa người tôi trung của Đức Kitô về hưởng hạnh phúc trường sinh.
Mộ phần của ông tại xứ Kim Sen khắc hai câu thơ tưởng nhớ:
Nghĩa khí nêu cao trên đất nước,
Oai linh phù hộ khắp non sông.
Ông được suy tôn Chân phước ngày 27/05/1900 và tôn phong Hiển thánh ngày 19/06/1988.
Nội dung về vị thánh trong bài viết này được tóm lược và diễn giải từ cuốn sách “Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam” (Hội đồng Giám mục Việt Nam, do Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm chủ biên, Nhà xuất bản Tôn Giáo, 2018). Bài viết này không phải là bản sao chép nguyên văn mà là sự tái trình bày dựa trên nguồn tài liệu gốc.
